Tin tài chính

Sự biến động của đồng EURO trong những tháng cuối năm 2014 và đầu 2015

08/01/2015 18:01

SSI điểm lại hai đồng ngoại tệ được  là Euro và Yên Nhật, đã giảm rất mạnh so với VND trong năm 2014. Một số doanh nghiệp có khoản lãi tài chính lớn nhờ tỷ giá biến động mạnh trong năm 2014...


 Đồng Euro giảm giá mạnh cuối năm 2014
Hai đồng ngoại tệ được SSI điểm lại là Euro và Yên Nhật, đã giảm rất mạnh so với VND trong năm 2014.

Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) vừa có bản tin cập nhật triển vọng kết quả kinh doanh năm 2014 của một số doanh nghiệp niêm yết. Điểm nhấn tại những doanh nghiệp này là tác động thuận lợi từ biến động của tỷ giá, gắn với dư nợ ngoại tệ lớn.


Cụ thể, hai đồng ngoại tệ được SSI điểm lại là Euro và Yên Nhật, đã giảm rất mạnh so với VND trong năm 2014.

Tính theo biểu niêm yết của các ngân hàng thương mại, so với đầu năm nay, đồng Euro đã giảm 9,5% so với VND, từ 28.835 xuống còn 26.095 VND; đồng Yên Nhật giảm mạnh hơn với 11,88%, từ 202,56 VND xuống 178,5 VND.

Với diễn biến trên, các doanh nghiệp có khoản nợ bằng ngoại tệ là Euro và Yên Nhật có được thuận lợi lớn trong cân đối tài chính.

Điển hình mà SSI đưa ra là Công ty Cổ phần Nhiệt điện Phả Lại (PPC).

Trước đây, công ty này từng mất hàng trăm đến cả nghìn tỷ đồng lợi nhuận để trích lập dự phòng cho khoản vay bằng Yên Nhật khá lớn khi đồng tiền này lên giá. Nhưng từ tháng 6/2014, đồng Yên Nhật mất giá so với VND đã giúp PPC có khoản lãi tài chính lớn trong quý 3 vừa qua.

Trong quý 4/2014, do chính sách nới lỏng tiền tệ để hỗ trợ nền kinh tế của Chính phủ Nhật Bản nên đồng Yên có xu hướng tiếp tục giảm giá cho đến cuối năm. Tính đến ngày 30/9 số dư nợ vay của PPC là 25,06 tỷ Yên.

Với diễn biến của tỷ giá nói trên, SSI ước tính tương đối đến cuối quý 4/2014, PPC có thể có được khoản lãi chênh lệch tỷ giá 360 tỷ đồng và đóng góp vào việc lợi nhuận tăng đột biến trong quý.

Tương tự Nhiệt điện Phả Lại, Công ty Cổ phần Điện lực Dầu khí Nhơn Trạch 2 (NT2) cũng có một khoản vay bằng đồng Euro trị giá 143,7 triệu.

Trong vòng một năm, tính đến 30/9/2014, đồng Euro đã giảm khoảng 7% so với VND, giúp tạo ra khoản lãi chênh lệch tỷ giá hơn 300 tỷ đồng cho NT2.

Đến hết quý 4/2014, SSI tính toán đồng Euro có thể tiếp tục giảm khoảng 700 đồng so với VND dẫn đến khoản chênh lệch tỷ giá 90 tỷ đồng được đưa vào lợi nhuận cuối kỳ cho NT2.

Hiện phần lớn doanh nghiệp có dư nợ ngoại tệ chủ yếu là đồng USD. Không có được thuận lợi từ “biến động ngược” như trên, song việc Ngân hàng Nhà nước liên tục giữ ổn định tỷ giá USD/VND những năm gần đây cũng giúp các doanh nghiệp chủ động hơn về chi phí khoản vay.


Số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam cho thấy, tháng đầu tiên của năm 2015, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ thị trường Đức tăng 52,08%, đạt 224,9 triệu USD trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng là một trong những mặt hàng chiếm trên 53%  tổng kim ngạch nhập khẩu với 120 triệu USD, tăng 82,85% so với cùng kỳ năm 2014.

Mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu lớn thứ hai là dược phẩm, đạt 14,7 triệu USD, tăng 12,71%; kế đến là sản phẩm hóa chất, tăng 36,7%, đạt 11,5 triệu USD…

Nhìn chung, tháng 1/2015, nhập khẩu hàng hóa từ thị trường Đức đều có tốc độ tăng trưởng, số mặt hàng có tốc độ tăng trưởng chiếm 72,7%, trong đó nhập khẩu mặt hàng phân bón có tốc độ tăng mạnh nhất, tăng 755,07%, đạt 1,2 triệu USD.

Ngoài mặt hàng có tốc độ tăng trưởng dương, thì trong tháng đầu năm nay,  nhập khẩu từ thị trường Đức với tốc độ tăng trưởng âm bao gồm: sản phẩm từ sắt thép giảm 11,06%; thuốc trừ sâu và nguyên liệu giảm 63,51%; quặng và khoáng sản giảm 61,72%...

Thống kê sơ bộ nhập khẩu từ thị trường Đức tháng đầu năm 2015 – ĐVT: USD

Nhập khẩu từ thị trường Đức tháng 1/2015

 
T1/2015
T1/2014
% so sánh tăng/giảm kim ngạch
Tổng KN
224.991.282
147.940.309
52,08
máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
120.007.304
65.632.382
82,85
dược phẩm
14.730.449
13.069.041
12,71
sản phẩm hóa chất
11.589.625
8.477.937
36,70
linh kiện, phụ tùng ô tô
7.791.646
2.098.144
271,36
máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
7.448.209
4.187.384
77,87
ô tô nguyên chiếc các loại
6.194.282
5.878.931
5,36
chất dẻo nguyên liệu
5.715.858
3.452.479
65,56
sữa và sản phẩm
5.277.858
3.814.694
38,36
hóa chất
3.778.866
3.084.838
22,50
gỗ và sản phẩm gỗ
3.638.422
1.651.571
120,30
vải các loại
3.345.460
2.568.316
30,26
sản phẩm từ sắt thép
3.041.368
3.419.552
-11,06
Sản phẩm từ chất dẻo
2.911.486
2.588.014
12,50
thuốc trừ sâu và nguyên liệu
1.817.212
4.980.401
-63,51
nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày
1.611.225
1.442.536
11,69
kim loại thường khác
1.336.223
2.376.648
-43,78
chất thơm, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh
1.250.222
 
*
Phân bón
1.223.085
143.039
755,07
sắt thép các loại
1.116.307
3.800.508
-70,63
sản phẩm từ cao su
889.659
608.856
46,12
Sản phẩm từ kim loại thường khác
862.325
183.634
369,59
phương tiện vận tải khác và phụ tùng
824.189
978.117
-15,74
Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc
805.285
596.248
35,06
nguyên phụ liệu dược phẩm
591.325
374.866
57,74
sản phẩm khác từ dầu mỏ
550.030
184.738
197,74
cao su
498.469
499.603
-0,23
giấy các loại
436.412
412.250
5,86
thức ăn gia súc và nguyên liệu
303.098
336.875
-10,03
dây điện và dây cáp điện
279.593
384.500
-27,28
Chế phẩm thực phẩm khác
276.590
 
*
nguyên phụ liệu thuốc lá
262.756
 
*
quặng và khoáng sản khác
176.113
460.025
-61,72
sản phẩm từ giấy
150.744
93.130
61,86
 



Theo vinanet và vneconomy.vn

Bài viết khác: